Bài này là phần 5 / 6 trong loạt bài Phương pháp rèn luyện trí nhớ

Trực quan hóa mục nhớ là chuyển mục nhớ thành những ấn tượng mà giác quan cảm nhận được, chẳng hạn như hình ảnh để thị giác cảm nhận, âm thanh để thính giác cảm nhận, sự nhờn/trơn láng/gồ ghề để xúc giác cảm nhận, mùi để khứu giác cảm nhận, vị mặn/đắng/ngọt để vị giác cảm nhận, …

Sinh động hóa mục nhớ là bổ sung thêm chi tiết cụ thể do đã biết hay do tưởng tượng thêm để ấn tượng trực quan tạo được trở nên thực hơn, gây chú ý cho người nhớ hơn. Ví dụ: thêm màu sắc, sự chuyển động, tích hợp kiến thức thức đã biết, biến đổi kích thước, hình dạng, …

Giả sử mục nhớ là quả táo. Trực quan hóa tức là hình dung ra quả táo đỏ (hoặc xanh hoặc màu gì đó đơn giản) trước mặt mình, sờ vào thì thấy vỏ trơn láng, nếm thử thì thấy vị hơi chua. Sinh động hóa tức là hình dung thêm là màu đỏ là đỏ thẫm, quả táo đang rơi xuống hay lăn tròn, đó là một quả táo tí hon, to như bình thường hay to lạ thường, …

Theo Tony Buzan trong cuốn sách Use Your Memory (Sử dụng trí nhớ của bạn), để làm mục nhớ trở nên trực quan sinh động, chúng ta thường sử dụng các yếu tố SMASHIN’ SCOPE như sau:

smashin-scope

Synaesthesia/Sensuality (Phối hợp giác quan)

Hình ảnh tạo ra cần có những ấn tượng mà giác quan cảm nhận được, càng sâu sắc càng tốt. Chẳng hạn như nếu đó là tô phở bò nóng thì bạn cần cảm nhận được sức nóng đó như đang cầm tô trên tay, ngửi được mùi rau thơm, ngò gai hòa quyện với mùi thịt bò tái trong làn khói bốc lên, và tưởng tượng được vị ngọt cay tuyệt vời khi húp muỗng nước lèo đầu tiên, …

Để đạt được yếu tố này, cần thường xuyên rèn luyện các giác quan cho ngày càng nhạy bén hơn:

  • Thị giác: không chỉ nhìn mà còn là quan sát để tái hiện
  • Thính giác: không chỉ nghe mà còn là lắng nghe để hiểu
  • Khứu giác: không chỉ ngửi mà còn là ngửi để nhận biết
  • Vị giác: không chỉ nếm mà còn là nếm để phân biệt
  • Xúc giác: không chỉ sờ mà còn là sờ để cảm nhận
  • Cảm giác thể: cảm nhận về vị trí và sự chuyển động trong không gian của mình

Movement (sự chuyển động)

Hình ảnh tạo ra không nên cứng đờ như khúc gỗ hay tĩnh lặng như một bức tranh, trừ khi bạn đang tưởng tượng một khúc gỗ cứng đờ hay một bức tranh tĩnh lặng J. Ít nhất hãy làm cho nhân vật chính trong hình được cử động hay chuyển động. Sự chuyển động này có thể ngẫu nhiên hay có quy tắc, xảy ra một lần hay lặp đi lặp lại, … miễn sao khiến các nhân vật trở nên rõ ràng và gây chú ý. Chẳng hạn như mục nhớ của bạn là con mèo đi pa-tanh. Thay vì chỉ nghĩ đến một ảnh chụp cảnh con mèo đứng trên tấm ván trượt, hãy tưởng tượng con mèo đó đang lượn lờ trước mặt mình hay đang hoảng hốt trượt vèo qua mặt mình, …

Association (sự liên tưởng)

Hình ảnh tạo ra cần gắn với những hình ảnh đã có và ổn định trong đầu của bạn. Điều đó giúp bạn sắp xếp kiến thức mới vào hệ thống kiến thức sẵn có và dễ gợi lại nó khi cần. Chẳng hạn như, bạn cần nhớ 10 mục. Thay vì chỉ tạo ra 10 hình ảnh, hãy đánh số thứ tự các mục trước. Sau đó, dùng hình ảnh mốc của số thứ tự lồng vào hình ảnh của từng mục. Từ đó, bạn có thể gợi nhớ lại từng mục thông qua hình ảnh mốc của số thứ tự tương ứng.

Sexuality (Tình dục)

Khi bạn tắm, bạn hay ngắm cơ thể của mình. Khi bạn xem phim, những cảnh ‘nóng’ làm bạn ngượng nhưng cũng làm bạn ‘thích’, chú ý hơn và nhớ rõ hơn… Những điều đó cho thấy bạn có xu hướng ‘ưu ái’ những ấn tượng liên quan đến tình dục. Bộ não của bạn cũng vậy! Nó có thể ghi nhớ hoàn hảo những hình ảnh về tình dục. Bạn có thể tận dụng điều này trong một số trường hợp, nhưng tuyệt đối đừng lạm dụng nó.

Humour (Sự khôi hài)

Không có lí do gì phải luôn tạo ra những hình ảnh tẻ nhạt nếu biết rằng hình ảnh càng vui nhộn, buồn cười, ngớ ngẩn thì càng dễ nhớ. Hình ảnh khôi hài chẳng những giúp bộ não ghi nhớ một cách thoải mái mà về lâu dài còn giúp trí thông minh phát triển tích cực. Do đó, thay vì chỉ hình dung một con mèo trượt pa-tanh bình thường, hãy tập pha thêm vào những yếu tố khôi hài như con mèo đang nhắm mắt trượt pa-tanh bằng một ngón chân thật điệu nghệ thì bị quá đà lao thẳng vào vách tường và in mình trên đó…

Imagination (Sự tưởng tượng)

Khi bạn đang cố gắng hình dung những thứ không đang có thật trước mặt mình, đó là bạn đang tưởng tượng. Sự tưởng tượng không có giới hạn, mà bao gồm tất cả những gì bạn cho là có, tất cả những gì bạn nghĩ ra. Thế giới trong trí tưởng tượng là của riêng bạn, do đó bạn có toàn quyền thiết kế, xây dựng nó. Đối với người khác, quả táo cần nhớ có thể chỉ là quả táo, nhưng với bạn, đó có thể là quả táo thần sẽ sáng đỏ rực khi được bạn cầm trên tay, …

Number (Số)

Số giúp đếm và thiết lập thứ tự giữa các hình ảnh, do đó giúp hình ảnh cụ thể hơn. Khi bạn phải nhớ nhiều mục cùng một lúc thì dùng số để gắn thứ tự cho các hình ảnh là việc nên làm.

Symbolism (Tính biểu tượng)

Biểu tượng là hình ảnh đơn giản thể hiện được nét đặc trưng của một hình ảnh phức tạp khác hoặc thể hiện được những khái niệm trừu tượng như sự tức giận, niềm vui, nỗi buồn, cấm đi ngược chiều, … Biểu tượng là phần bổ khuyết của hình ảnh thực. Sử dụng biểu tượng thích hợp sẽ giúp quá trình tạo ảnh hiệu quả hơn, đa dạng hơn, hoàn chỉnh hơn. Biểu tượng sử dụng có thể bắt chước, học tập ở người khác hay do bạn tự tạo lấy.

Color (Màu sắc)

Hãy dùng càng nhiều màu càng tốt vì một bức tranh ‘muôn màu’ thường gây ấn tượng tốt hơn một bức tranh ‘đơn sắc’. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng dùng nhiều màu để tạo ra sự hài hòa chứ không phải để tạo ra ‘một đống màu’. Chẳng hạn như, ba trái táo đỏ đặt trên cái đĩa thủy tinh trong suốt trên cái bàn gỗ xanh lá sẽ dễ nhìn hơn ba trái táo nửa đỏ nửa xanh đặt trên cái đĩa nửa đỏ nửa xanh trên cái bàn gỗ cũng nửa đỏ nửa xanh.

Order (Trật tự)

Trong một hình có nhiều chi tiết hay khi cần ghi nhớ các hình ảnh của một quy trình, trật tự sẽ giúp việc ghi nhớ dễ hơn. Chẳng hạn như: chi tiết nhỏ đứng trước chi tiết lớn, những chi tiết cùng màu hay cùng bộ thì nằm gần nhau, chi tiết của bước 1 xuất hiện trước chi tiết của bước 2, …

Positive images (Những hình ảnh tích cực)

Bộ não ‘thích’ những hình ảnh tích cực vì chúng tạo ra cảm giác thoải mái. Trong quá trình tiếp thu và ghi nhớ, bộ não có xu hướng giữ lại những hình ảnh tích cực và loại bỏ những hình ảnh tiêu cực. Do đó, khi tạo ảnh, kể cả là cho các mục nhớ mang ý nghĩa tiêu cực, hãy cố gắng truyền vào những cảm xúc, chi tiết vui tươi, tích cực. Chẳng hạn như bạn cần nhớ một khuôn mặt buồn. Thay vì chỉ nghĩ về một khuôn mặt ủ rũ thật, bạn có thể biểu tượng hóa nó hay thêm các nét đáng yêu, buồn cười vào:

smashin-scope-positive-images

Exaggeration (Sự phóng đại)

Khi những chi tiết cần được chú ý lại quá mờ nhạt, bạn có thể thử phóng đại để biến đổi nó so với bình thường. Chẳng hạn như phóng to cây kim nhỏ thành cây kim khổng lồ, thu nhỏ con voi bằng con chuột, biến cái đầu của chú chó ma lớn gấp 3 lần bình thường, khuếch đại tiếng muỗi kêu thành tiếng nhạc rock, … Chắc chắn chúng sẽ dễ nhớ hơn vì đã gây được sự chú ý với bộ não.

 

Ngoài các yếu tố vừa nêu trên, tất nhiên bạn có thể sử dụng nhiều yếu tố khác khi trực quan sinh động hóa hình ảnh của mình. Nhưng dù sử dụng yếu tố nào, hãy nhớ là không nên cứng nhắc. Chỉ cần trực quan hóa và sinh động hóa đến mức khiến ta dễ dàng ghi nhớ được mục nhớ là được.

 

Trong bài tiếp theo, chúng ta sẽ thử làm một bài tập nhỏ để kiểm chứng những điều nói trên. Qua đó, các bạn sẽ hé thấy bộ não của mình kì diệu như thế nào. Hãy thử nhé :)!

(86 lượt xem)